KIẾN THỨC THẢO DƯỢC

CÂY NHŨ HƯƠNG ẤN ĐỘ

Boswellia serrata, còn được gọi là cây nhũ hương Ấn Độ, là loại dược liệu được dùng hàng trăm năm trong nền y học Ayurveda của Ấn Độ, để điều trị viêm khớp, đặc biệt là thoái hóa khớp gối. Một số người xem Boswellia serrata như một giải pháp đầy hứa hẹn để thay thế các loại thuốc giảm đau NSAIDs, vốn có nhiều tác dụng phụ lên dạ dày. Trong một số báo cáo, Boswellia serrata cho tác động tích cực lên các bệnh viêm mãn tính bao gồm viêm khớp dạng thấp, hen phế quản, viêm xương khớp, viêm loét đại tràng và bệnh Crohn.

Tác dụng chống viêm

Thành phần quan trọng nhất trong cây nhũ hương là axit boswellic, được chứng minh bởi một số nghiên cứu trên động vật, là chất có khả năng ức chế mạnh một loại enzyme có tên là 5-lipoxygenase với đặc tính chống viêm. Trong một nghiên cứu, liên quan đến chất Triterpenes có trong axit boswellic có khả năng làm giảm sự tổng hợp của leukotrienes trong bạch cầu trung tính nguyên vẹn bằng cách ức chế 5-lipoxygenase, enzyme quan trọng tham gia tổng hợp leukotrienes, gây ra chứng viêm.  Trong một nghiên cứu cho thấy, 175 bệnh nhân nằm liệt giường sử dụng thuốc thì 67% trong số đó có sự cải thiện tốt hoặc tuyệt vời, đối với các triệu chứng cứng khớp buổi sáng, chứng đau và khả năng vận động hàng ngày. Chiết xuất Boswellia, trong khi mang lại hiệu quả trong điều trị các bệnh viêm mãn tính khác nhau, không gây ra tác dụng phụ thường gặp nào liên quan đến các thuốc kháng viêm không steroid thông thường như ibuprofen và Voltaren.

Bệnh hen suyễn

Hen suyễn là một rối loạn chức năng phổi, gây ra tình trạng co thắt và viêm các đoạn phế quản, vì thế hạn chế dòng không khí vào và ra khỏi phổi. Boswellia serrata có thể làm giảm số lượng các cơn hen suyễn. Trong một thử nghiệm mù đôi, kiểm soát giả dược, việc sử dụng 300 mg boswellia serrata 3 lần mỗi ngày dẫn đến một tác động tích cực trong các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh hen suyễn, bao gồm giảm cơn hen suyễn. Bảy mươi phần trăm bệnh nhân hen suyễn cho thấy các triệu chứng hen suyễn và chức năng phổi được cải thiện, đồng thời làm giảm các tế bào máu dị ứng.

Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng

Boswellia serrata có thể làm giảm các chứng viêm liên quan đến bệnh Crohn và viêm loét đại tràng, rối loạn đường ruột gây đau đớn. Thử nghiệm ngẫu nhiên với phương pháp giả dược và mù đôi, bệnh nhân bị bệnh Crohn được điều trị bằng 2 viên uống 400 mg Boswellia serrata hoặc giả dược ba lần mỗi ngày trong 12 tháng. Vào cuối nghiên cứu, kết quả cho thấy 59% bệnh nhân được điều trị bằng Boswellia và 55% bệnh nhân được điều trị bằng giả dược duy trì thuyên giảm do bệnh Crohn, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiệu quả giữa nhóm hoạt động và nhóm kiểm chứng.

Viêm loét đại tràng là một dạng viêm đại tràng, một bệnh về đường ruột, đặc biệt là ruột già hoặc đại tràng, bao gồm các vết loét đặc trưng, hoặc vết loét hở, trong ruột kết. Leukotrienes được cho là đóng một vai trò trong quá trình viêm của viêm loét đại tràng. Các triệu chứng viêm loét đại tràng bao gồm tiêu chảy ra máu, đau bụng, sốt, loét ở đại tràng, chán ăn và có chất nhầy trong phân. Trong một nghiên cứu dựa trên 20 bệnh nhân sử dụng boswellia 300 mg 3 lần một ngày trong vòng 6 tuần. Trong số đó, có 14 đã thuyên giảm, trong khi với sulfasalazine, tỷ lệ thuyên giảm là 4 trên 10. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng Boswellia serrata có thể thành công trong điều trị viêm loét đại tràng như là một liệu pháp tiêu chuẩn.

Ung thư

Axit Boswellic tạo ra sự phân hủy, phân hóa và quá trình tự huỷ diệt trong các dòng tế bào ung thư bạch cầu. Chúng phát huy tác dụng gây độc tế bào ung thư trên các dòng tế bào ung thư tăng bạch cầu và các dòng tế bào ung thư bạch cầu của con người, cũng như trên các tế bào u não người. Boswellia serrata đã được chứng minh là gây độc tế bào đối với cả hai loại tế bào u thần kinh đệm và chống tăng sinh phụ thuộc vào liều dùng trong quá trình nghiên cứu với chuột. Axit Boswellic đã được tìm thấy có khả năng hoạt động chống ung thư cổ tử cung, bàng quang, và các dòng tế bào ung thư khác cũng như hoạt động chống viêm. Boswellia serrata cũng có thể làm giảm việc lưu giữ nước liên quan đến các khối u não. Sự tích tụ chất lỏng này liên quan đến hoạt động của một số hóa chất viêm nhất định. Boswellia ức chế việc sản xuất các hóa chất này. Trong một nghiên cứu, 44 bệnh nhân u não được xạ trị dùng 4.200 mg boswellia hoặc giả dược mỗi ngày. 60% trong số những người được xạ trị và dùng boswellia đã tìm thấy phù não giảm hơn 75%. Kết quả nghiên cứu được công bố trong ấn bản Ung thư tháng 2 năm 2011. Tại các bệnh viện đại học của Bochum và Giessen, bệnh nhân có khối u gliome được dùng 3600 mg Boswellia. Trong vòng một vài ngày, nhiều triệu chứng liên quan đến các khối u não, đã giảm đi rất nhiều. Trong một nghiên cứu khác được thực hiện trên 25 bệnh nhân dùng chiết xuất boswellia trong một tuần và các khối u sau đó được phẫu thuật cắt bỏ. Khoảng một nửa số bệnh nhân có hồi quy đáng kể. Nghiên cứu này được tiến hành bởi bác sĩ giải phẫu thần kinh Dr. Michael Winking.

Liều dùng

  • Chất chiết xuất tiêu chuẩn thường chứa 37,5-65% axit boswellic. Liều dùng boswellia là 300 đến 400 mg ba lần một ngày đối với chiết xuất được chuẩn hóa chứa 37,5% axit boswellic.
  • Đối với bệnh hen suyễn, 300 mg ba lần mỗi ngày chiết xuất boswellia tiêu chuẩn
  • Đối với viêm khớp dạng thấp, 400 mg mỗi ngày ba lần chiết xuất boswellia tiêu chuẩn
  • Đối vi bệnh Crohn, 1.200 miligram ba lần mỗi ngày chiết xuất boswellia tiêu chuẩn
  • Đối với viêm loét đại tràng, 350 mg mỗi ngày ba lần chiết xuất boswellia tiêu chuẩn.

Tác dụng phụ của Boswellia

Hiếm gặp tác dụng phụ. Tuy nhiên, tác dụng phụ của các axit boswellic nếu có sẽ có thể gây ra buồn nôn khó chịu ở bụng, đau vùng thượng vị, tăng acid uric và tiêu chảy. Không giống như dược phẩm corticosteroids làm ức chế tổng hợp leukotriene, boswellia không có tác dụng phụ hay độc tính đáng kể. Trong các thử nghiệm lâm sàng về chiết xuất tiêu chuẩn của cây nhũ hương, không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào được báo cáo.

Nguồn: Superfoods Scientific Research
http://www.superfoods-scientific-research.com/medicinal-herbs/boswellia-benefits.html

NẤM ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO

Lợi ích tăng cường sinh lực cơ thể

Nấm Đông trùng hạ thảo là một trong những thảo mộc được đánh giá cao nhất với tác dụng điều chỉnh hệ miễn dịch và bổ sung năng lượng cho cơ thể được tìm thấy trong ngành dược liệu Trung Quốc. Nó có nguồn gốc từ vùng núi cao của dãy Himalaya và đã được sử dụng bởi những người Tây Tạng, Nepal và Trung Quốc trong hàng trăm năm.

Thường được so sánh với nhân sâm nhờ vào phẩm chất phục hồi năng lượng của nó, nó được tôn kính như một loại thảo mộc có tác dụng tạo dựng “Chi” với các công dụng “kích hoạt năng lượng cuộc sống”. Ngoài ra, Đông trùng hạ thảo (ĐTHT) còn được biết đến với công hiệu hồi phục chức năng của các tuyến cơ quan sinh dục và hệ thống sinh sản. Nấm Đông trùng hạ thảo cũng được coi là một tác nhân kích thích ham muốn tình dục và thuốc bổ hàng đầu trong việc giúp tăng cường sinh lý.

Trong nền y học cổ truyền Trung Quốc, Đông trùng hạ thảo cũng được công nhận là một loại thuốc đặc biệt giúp bổ phổi và thận. ĐTHT hỗ trợ phục hồi thận suy và được dùng để làm tăng dung tích phổi cũng như khả năng điều tiết oxy, chứng minh nó là một loại thuốc bổ tuyệt vời giúp cải thiện sức bền vận động và tập luyện aerobic.

Vào năm 1993, trong lễ hội Điền kinh Quốc Gia ở Bắc Kinh, Trung Quốc, các vận động viên nữ nhờ sử dụng nấm Đông trùng hạ thảo, đã giúp họ phá vỡ kỷ lục thế giới liên tiếp. Sau khi được thử nghiệm âm tính đối với việc sử dụng steroid đồng hóa, huấn luyện viên của nhóm tiết lộ rằng họ đã tiêu thụ thảo dược đông trùng hạ thảo hàng ngày như một chế độ dinh dưỡng bổ sung.

Đông trùng hạ thảo chứa các polysaccharide hỗ trợ miễn dịch, giống như beta-glucans và thuốc chống ung thư ức chế CO-1, cộng với hợp chất gọi là “cordycepin”, là chất chỉ có trong đông trùng hạ thảo. Các thành phần hoạt tính khác có trong Đông trùng hạ thảo bao gồm ergosterol, acid cordycepic và các nucleoside khác, như adenosine.

Nấm Đông trùng hạ thảo là gì?
Nấm Đông trùng tự nhiên mọc hoang dã (Cordyceps sinensis), còn được gọi là “sâu bướm nấm”, khá khác so với các loại nấm dược liệu khác, nó nảy mầm từ xác ướp của nhiều loài côn trùng khác nhau, phát triển như sợi nấm dạng lưỡi dài hơn các giống nấm thông thường.
Tuy nhiên, ngày nay nấm đông trùng hạ thảo mọc hoang dã rất hiếm và cực kỳ tốn kém. Vào năm 1972, các nhà khoa học về nấm ở Trung Quốc đã phân lập được một chủng nấm tự nhiên gọi là Trùng Thảo Cs-4 và có thể phát triển thành công nó bằng cách sử dụng cả chất lỏng và chất nền hạt.

Hiện nay, một số giống Đông trùng được sản xuất bằng cách sử dụng ấu trùng giun lụa, nhưng chất chiết xuất từ sợi nấm đông trùng đạt cao hơn nhiều. Chiết xuất dạng bột và toàn bộ phần nấm khô được bán ngày nay được trồng hữu cơ trên nền gạo lứt, không phải trên sâu bướm hoặc các cơ quan côn trùng khác.
Các phiên bản canh tác này cực kỳ khép kín, sở hữu gần giống các thuộc tính tăng cường sức khỏe như các giống tự nhiên thuần chủng vì chúng được trồng bằng bào tử hoang dã, hoặc là các loài Cordyceps militaris hoặc Cs-4 sinensis.

LỢI ÍCH CỦA ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO 

Giúp phục hồi và tăng cường sinh lực

Đông trùng hạ thảo được xem là một loại thuốc tăng lực được đánh giá cao nhờ vào hiệu ứng hồi sinh sức bền cơ thể cũng như khả năng giúp tăng năng lực hoạt động của phổi và xây dựng cơ bắp.  Loại nấm này được sử dụng bởi những vận động viên thể thao thông qua việc tiêu thụ protein như là một cách tăng cường năng lượng trước khi tập luyện.Trong lĩnh vực thảo dược Trung Quốc, đông trùng hạ thảo được coi là cực kỳ có lợi như một loại thảo dược bổ trợ chính, một trong 3 kho báu trong Y học truyền thống Trung Quốc (TCM). Nấm khô thường được sử dụng trong công thức thảo dược và có thể được pha trộn với các chất thích ứng năng lượng khác như chi hoàng kỳ, nhân sâm, maca, rhodiola và ashwagandha để tăng hiệu quả.Đông Trùng Hạ Thảo từ lâu đã được tiêu thụ bởi các dân tộc miền núi Himalaya, như bộ lạc Mykot, để tăng năng lượng và độ bền cần thiết cho các hoạt động trên độ cao.

Chứa Nucleosides Adenosine and Cordycepin

Ngoài ra, cả hai loài ĐTHT C. sinensis và C. militaris đều chứa các thành phần dược liệu quan trọng như các nucleoside, cụ thể được gọi là cordycepin và adenosine. Các thành phần hoạt tính này đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng trong việc tăng sản xuất ATP và bổ trợ cho hệ tim mạch, giúp điều hòa huyết áp.

ATP, hoặc adenosine triphosphate, là nguồn năng lượng nội bào cho cơ bắp của bạn. Nó là một quá trình sinh hóa được biết đến trong giới vận động viên thể hình chuyên nghiệp và vận động viên vì nó giúp tăng cường sức mạnh và duy trì mức độ bền bỉ. Nó đặc biệt có lợi cho các hoạt động ngắn như chạy nước rút.

Trong một nghiên cứu mù đôi phân tích trên các thử nghiệm về tác dụng của ĐTHT, chứng minh rằng “bổ sung với ĐTHT Cs-4 (C. sinensis ) giúp cải thiện hiệu suất tập thể dục và có thể góp phần cải thiện sức khỏe cho người lớn tuổi.”

Một nghiên cứu khác cho thấy “sự gia tăng tỷ lệ ATP đối với phosphate vô cơ ở chuột được điều trị thể hiện sự gia tăng trạng thái năng lượng tế bào.” Một nghiên cứu thứ hai sử dụng “chiết xuất hòa tan trong nước của ĐTHT Cs-4 cũng cho thấy sự gia tăng 45-55% trong tỷ lệ ATP: Pi.
Nucleosides là một trong những thành phần chính trong ĐTHT C. sinensis, chiếm phần lớn trong hệ miễn dịch và có lợi cho sức khỏe. Cordycepin (3′-deoxyadenosine) là một trong những chất thích ứng trong đông trùng hạ thảo đã được phát hiện để cung cấp các hiệu ứng điều chỉnh miễn dịch có khả năng hữu ích trong điều trị các bệnh liên quan đến hệ miễn dịch.

Phục hồi và bảo vệ chức năng thận

Đông trùng hạ thảo là nấm dược liệu hàng đầu thường được kê toa bởi các nhà thảo dược Trung Quốc cho bệnh nhân suy thận và thường được gọi là “thuốc bổ thận.” Jing là một trong ba kho báu trong Y học cổ truyền Trung Quốc, được coi là nền tảng năng lượng hoặc “gốc rễ của sức sống” cho toàn bộ cơ thể. Nó được lưu trữ đặc biệt trong thận cũng như tuyến thượng thận và tuyến sinh dục.Ngày nay, việc bổ sung thường xuyên Đông trùng hạ thảo có thể hỗ trợ cho rất nhiều người có lối sống nhịp độ nhanh, những người vô tình làm tiêu hao năng lượng được lưu trữ tại hệ thống Jing này. Ngoài ra, hoạt động quá tải của thận và tuyến thượng thận do lạm dụng đồ uống chứa caffein và các chất kích thích khác có thể đặc biệt làm cạn kiệt nguồn năng lượng dự trữ sâu trong cơ quan này trong một khoảng thời gian, dẫn đến kiệt sức tuyến thượng thận và các rối loạn tự miễn dịch khác nhau.  Chiết xuất nấm đông trùng là chất thích ứng mạnh mẽ và thuốc bổ thận giúp xây dựng và khôi phục năng lượng cũng như bổ sung các hệ thống miễn dịch sâu hơn nằm trong khu vực dự trữ tủy xương.ĐTHT là một loại thuốc hỗ trợ tuyệt vời khi sử dụng với các siêu thực phẩm hỗ trợ năng lượng khác và được đặc biệt khuyến cáo bởi nhiều nhà thảo dược cho những người phục hồi từ tình trạng suy nhược. Các nghiên cứu với những người lớn tuổi ít vận động cho thấy sự gia tăng đáng kể về năng lượng, sự thèm ăn cũng như trạng thái thể chất và tinh thần được cải thiện.”Mệt mỏi, bất lực, đau khớp và lưng, thậm chí ù tai là tất cả các triệu chứng của tình trạng thận bị thoái hóa. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng dùng nhiều đông trùng giúp thận tự phục hồi và tăng 17-hydroxy-corticosteroid và 17-ketosteroid (Nguồn: Zhou et al 1998 On the Trail of The Yak Ancient Cordyceps in the Modern World).

Dong trung pics

ĐTHT giúp kích thích và gia tăng năng lực tình dục.

Bênh cạnh công dụng thúc đẩy sự phục hồi của cơ thể, ĐTHT cũng đồng thời là một chất giúp cải thiện năng lực tình dục mạnh mẽ, nó giúp tăng cường ham muốn tình dục và làm sống lại các tuyến tình dục ở cả nam giới và phụ nữ.Người bản địa Tây Tạng Mykot được cho là một trong những người đầu tiên khám phá các tính chất làm hồi sinh năng lực tình dục của nấm ĐTHT khi họ nhận thấy rằng đàn thú được chăn thả tự do của họ theo bản năng sẽ di chuyển đến khu vực có độ cao hơn trên các vùng có cỏ và nấm đông trùng hạ thảo. Điều này gây ra một sự giao phối điên cuồng giữa chúng mà sau này được nhận ra là kết quả của việc tiêu thụ số lượng lớn nấm tươi ĐTHT.”Bằng chứng cho thấy rằng ĐTHT C. sinensis và C. militaris có thể cải thiện hoạt động sinh sản và phục hồi chức năng sinh sản bị suy giảm.”
Kích thích hệ miễn dịch, có thể giúp ức chế khối u.

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều polysaccharide và nucleoside được tìm thấy trong nấm ĐTHT hoạt động đặc biệt như các chất ức chế hệ thống miễn dịch và có hoạt tính chống oxy hóa mạnh, chống vi rút và chống ung thư. Một trong số dưỡng chất từ nấm đó bao gồm beta glucans, như CO-1, và nucleoside cordycepin (3’deoxyadenosine).

Các thành phần beta-glucan giúp tăng cường sản xuất interleukin, interferon và kháng thể của các tế bào miễn dịch hoạt hóa. Hiện nay, có hơn 10 nucleoside có thể nhận dạng và các thành phần liên quan của chúng được tìm thấy trong nấm đông trùng. “Trong y học, một số chất tương tự nucleoside được sử dụng làm thuốc kháng vi-rút hoặc thuốc chống ung thư.”

Bằng chứng cũng chứng minh cordycepin có khả năng ức chế sự tổng hợp DNA của tế bào ung thư, được cho là cơ chế chính chịu trách nhiệm cho các tác dụng của nó như là chất ức chế tăng trưởng khối u, làm tăng đáng kể tỷ lệ tiêu diệt tế bào khối u.

Một số nấm dược liệu như linh chi, nấm Vân chi (còn gọi là Nâm đuôi gà tây, tên khoa học là Coriolus Versicolor), nấm chaga cũng như đông trùng hạ thảo là những vị thuốc bổ sung tuyệt vời để sử dụng khi trải qua hóa trị hoặc xạ trị nếu bạn chọn tiếp nhận liệu trình điều trị.  Ngoài ĐTHT, Chaga và Vân chi, đều là nấm chứa chất chiết xuất được biết đến bởi nhiều chuyên gia nghiên cứu ung thư hàng đầu cho các hợp chất chống ung thư mạnh.

Có lợi cho phổi và hệ hô hấp

Ngoài bổ thận, ĐTHT cũng là một loại thuốc bổ phổi được xếp hạng trong Y học cổ truyền Trung Quốc và được cho là làm tăng dòng chảy của Chi, có liên quan đến nguyên tố không khí. Khi có thêm sự hấp thụ oxy của Chi và không bị cản trở, kết quả là năng lượng sẽ được tăng cường.

Nhiều tác dụng của nấm ĐTHT trên phổi được cho là xuất phát từ khả năng cải thiện việc tiêu thụ oxy hiệu quả. ĐTHT rất là hữu ích cho các vận động viên thể thao chuyên nghiệp cũng vì lý do này, sẽ giúp tăng lực và mức độ bền bỉ.

D-mannitol, còn được gọi là axit cordycepic, được công nhận đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm bớt các tình trạng như viêm phế quản hoặc hen suyễn nhờ vào các thành phần chống viêm của nó. Đây được xem là một liệu pháp điều trị ở Trung Quốc đối với các vấn đề viêm phế quản và hen suyễn và đã được sử dụng rộng rãi như liệu pháp phòng ngừa cho các chứng bệnh sợ độ cao ở các vùng núi.

Trong một nghiên cứu mang tên “Hoạt động chống hen suyễn trong chiết xuất sợi nấm và dịch lọc cấy ghép đông trùng hạ thảo sphecocephala J201” cho thấy rằng “chiết xuất sợi nấm và dịch lọc của C. sphecocephala, chỉ ra rằng các chất chiết xuất làm giảm phản ứng miễn dịch không mong muốn và / hoặc biểu hiện cytokine được trưng bày trong bệnh hen suyễn. “

Các dạng của Nấm Đông trùng hạ thảo

Hầu hết các nấm Đông trùng hạ thảo chất lượng cao được trồng bằng cách sử dụng bào tử hoang dã từ các loài sinensis hoặc militaris.• Nấm khô – Được sử dụng bằng phương pháp đun sôi thảo dược trong nước khoảng 20 phút hoặc lâu hơn.

  • Dạng bột khô – Bột nên được pha chế như một loại trà và không được ăn dưới dạng bột thẳng.
  • Chiết xuất dạng bột hoặc viên nang – Đây là những chiết xuất nước nóng dưới dạng bột hoặc đóng viên (phổ biến vì sự tiện dụng)
  • Special Formulations – Một số nhãn hiệu chứa các hợp chất nấm khác trong sản phẩm đông trùng hạ thảo, như bào tử và sinh khối sợi nấm cũng như chiết xuất toàn bộ nấm.
  • Chiết xuất dạng lỏng –  Đây là chất lỏng có cồn được chiết xuất từ bào thể nấm được bảo quản.

Cách sử dụng

Chất chiết xuất dạng bột hoặc chất lỏng có thể được thêm vào trà, đồ uống hoặc đồ uống pha trộn. Chiết xuất dạng viên uống với nước lọc hoặc pha thức uống khác (trừ thức uống có cồn). Tốt nhất là uống nấm hai lần một ngày vào buổi sáng và buổi chiều. Bởi vì hiệu quả năng lượng của nó tốt nhất là tránh vào buổi tối hoặc trước khi ngủ. Tất cả nấm dược liệu tươi (khô hoặc tươi) cần phải được đun sôi để giải phóng các chất dinh dưỡng có lợi của chúng.

Nguồn: Superfood Evolution Channel

Liên hệ: tel:0908281889 hoặc e-mail: support@teresaherbs.vn

NẤM VÂN CHI

Một siêu thực phẩm cho các chức năng miễn dịch

Nấm Vân chi, tên khoa học là Coriolus Versicolor hoặc Trametes versicolor, là một loại nấm rừng phát triển mạnh mẽ trên các loại thân gỗ cứng khác nhau ở hầu như khắp trái đất. Nó đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ, ở nhiều nơi trên thế giới, như một loại thuốc tự nhiên cung cấp các đặc tính chống vi khuẩn, chống virus và chống khối u mạnh mẽ. Nó thường được gọi là Nấm đuôi gà tây vì hình dạng và sọc dòng màu sắc khác nhau của nó giống như lông của đuôi gà tây đực hoang dã.

Vân chi là một trong những giống nấm dược liệu được nghiên cứu rộng rãi nhất nhờ những tác động lên việc tăng cường các chức năng miễn dịch cơ bản và thứ cấp. Vân chi chứa hai phân tử polysaccharide cụ thể là PSK và PSP, đã được chứng minh là giúp ức chế sự phát triển của các tế  bào ung thư. Nó từ lâu đã được sử dụng như là một loại thuốc hỗ trợ điều trị  ung thư ở Nhật Bản. Trong thực tế, chiết xuất PSK (còn gọi là Kresin) đã được người Nhật sử dụng từ những năm 1980 như là một liệu pháp điều trị y học tự nhiên cho một số loại ung thư.

nấm vân chi

Nấm Vân chi là gì?

Vân chi, hay Trametes versicolor/ Coriolus versicolor, là một loại nấm polypore hoặc “nấm mốc” có lỗ chân lông ở mặt dưới của thân và có xu hướng phát triển trong các hình dạng giống như kệ, chỉ từ một hàng, hoặc giống như đuôi gà tây lên tới hàng chục hàng cùng một lúc. Nấm popypore, tương tự như nấm chaga, linh chi hay vân chi, phát triển và lấy thức ăn từ các thân cây, cành cây, gốc cây bị phân rã.

Những loại nấm này, cũng như nấm vân chi, được ví như một trong nhứng nhân tố quan trọng nhất cho sự phân huỷ gỗ và đóng một vai trò quan trọng trong các chu kỳ sinh học của tất cả các hệ sinh thái rừng trên khắp hành tinh. Điều thú vị là, nấm đuôi gà tây, hay vân chi, là một trong những loại nấm phổ biến nhất, hình thành các khuẩn lạc tuyệt vời ở trên thân cây hoặc gỗ mục nát. Một khi bạn đã quen thuộc với nó, bỗng nhiên bạn sẽ nhìn thấy chúng ở mọi nơi khi đi bộ qua môi trường rừng hoang dã.

Nấm đuôi gà tây có nguồn gốc từ khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới, khí hậu ôn đới và rất dễ thích nghi, phát triển rộng rãi trong một vùng thuộc các khu rừng trên toàn thế giới. Nó không phải là một loại nấm thân mềm, giống như nấm hương, mà là một loại thân mỏng, cứng và đôi khi cảm giác hơi nhạt. Chúng cũng có nhiều màu sắc nhưng chủ yếu là các sắc thái trắng, nâu và cam với các sắc tố xanh lá cây, xanh da trời và sắc tố định hướng. Những màu này tạo thành phân đoạn giống như cầu vồng rất đẹp.

nấm vân chi

Lịch sử sử dụng

Nền văn hoá Châu Á là một trong những người đầu tiên khám phá ra những tác dụng mạnh mẽ mà nấm dược liệu có thể có về sức khoẻ tổng thể. Được giới thiệu ở Trung Quốc với cái tên là “Yun Zhi”, nấm vân chi đã được sử dụng dưới dạng trà trong nhiều thế kỷ.

Trong một cuốn sách về y học cổ truyền của Trung Quốc có tên là  “Bencao Gangmu” hay “Compendium of Materia Medica”, được viết bởi LÝ THỜI TRÂN (Li Shizhen), một danh y và nhà dược học nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Minh, vào năm 1578, có đề cập rằng “Nấm vân chi có lợi cho tinh thần của một người (Thần) và năng lượng chính (Chi), và tăng cường gân xương của một người (Jing). Nếu dùng lâu dài nấm vân chi, nó sẽ làm cho cơ thể mạnh mẽ và sống lâu.

Người Nhật gọi nấm đuôi gà tây là “kawaritake”, cũng được dịch là nấm vân chi (nấm đám mây). Các nhà khoa học ở Nhật Bản, kể từ những năm 1960, đã nghiên cứu mạnh mẽ các tính chất dược liệu mà nấm vân chi có đối với hệ miễn dịch của cơ thể cũng như ảnh hưởng của nó ở vai trò là một tác nhân chống khối u. Nấm vân chi cũng đã được sử dụng bởi các dân tộc bản địa và các nhà thảo dược ở Châu Âu và một phần Bắc Mỹ trong một thời gian rất dài.

Thành phần polysaccharide mạnh mẽ PSK và PSP

 Nấm đuôi gà tây chứa chất Beta-glucan polysaccharide được biết là giúp điều chỉnh và kích thích hệ miễn dịch. Một trong những hợp chất giàu betaglucan này là polysaccharide liên kết với protein được gọi là polysaccharide-K (còn gọi là PSK hay krestin), và chỉ được tìm thấy trong nấm vân chi. Sau khi được các nhà khoa học Nhật Bản nghiên cứu, chiết xuất PSK đã được phê duyệt vào những năm 1980 như một loại thuốc được sử dụng để điều trị một số loại ung thư. Bằng chứng trong các thử nghiệm lâm sàng ở người sử dụng PSK cho thấy hoạt động chống khối u đặc biệt đối với ung thư dạ dày, thực quản, ung thư phổi và ung thư vú.

“Ở Nhật Bản, PSK là thuốc chống ung thư bán chạy nhất, nó hiện đang được sử dụng như một liệu pháp điều trị ung thư cùng với phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. PSP được phát hiện gần đây và được nghiên cứu chủ yếu ở Trung Quốc” (theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ).

Mặc dù FDA thừa nhận những lợi ích của nấm vân chi (coriolus versicolor), một trong những lý do chính khiến họ không thể phê duyệt hợp pháp chiết xuất coriolus, như PSK, là do API (hoạt chất chính) cần phải được xác định chính xác. Theo nhà khoc học Paul Stamets, “PSK là một loại đường và các protein kèm theo nhưng không có phân tử duy nhất chịu trách nhiệm về tác động của nó đối với hệ miễn dịch. Nếu không có API, xác minh từ lô này sang lô khác là không thể.”, nó được phân loại là một loại thuốc không xác định.

Ngoài ra, các polypeptit nhỏ khác cũng như polysaccharide đa sắc (VPS) cũng được biết là có kết quả có lợi trên ức chế sự tăng trưởng khối u ung thư nhất định. Nấm đuôi gà tây cũng chứa polysaccharide gọi là PSP, một tác nhân chống virus mạnh hoạt động chủ yếu như là một “phản ứng sinh học sửa đổi” (BRM), kích thích các cơ quan phản ứng với sự nhiễm trùng và bệnh tật. Những thành phần chống virus này được coi là bảo vệ đặc biệt đối với “oncoviruses” như vi-rút viêm gan C và vi-rút u nhú ở người (HPV), nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung.

Tất cả các loại nấm dược liệu đều có tác dụng che chắn miễn dịch và nhiều loại như vân chi, chaga và maitake, hiện đang được nghiên cứu vì lợi ích tiềm ẩn của chúng trong việc loại trừ virus và cũng có thể hoạt động như một biện pháp phòng ngừa, giúp xây dựng hệ miễn dịch khỏe mạnh. Chiết xuất bột của nấm vân chi thường được sử dụng trong hình thức “bổ sung”, ở phương Tây, và như là một thực phẩm bổ sung để điều trị ung thư theo quy định. Nhiều học viên y khoa toàn diện nhận thức rõ về chiết xuất nấm và thường được khuyến khích tăng cường hệ thống miễn dịch sau khi hóa trị để giúp bảo vệ chống tái phát ung thư.

Tăng cưng hoạt động của tế bào sát thủ tự nhiên

 Nấm vân chi (coriolus) giúp tăng cường và kích hoạt một cách tự nhiên “các tế bào sát thủ tự nhiên” hay còn gọi là NK (Natural killer cell). Đây là những tế bào miễn dịch duy nhất cung cấp một phản ứng bảo vệ nhanh chóng chống lại sự phát triển của khối u và các tế bào bị nhiễm virus, hoạt động nhanh hơn nhiều so với các tế bào khác nhờ khả năng xác định các tế bào bị tổn thương và mầm bệnh. Chúng thực hiện trên cả hai bề mặt (bài tiết) miễn dịch, tuyến phòng thủ đầu tiên, cũng như trên hệ thống miễn dịch sâu và dự trữ tủy xương, mà chủ yếu là các nguồn lực sao lưu cho hệ thống bài tiết.

Những thuộc tính này làm cho các tế bào NK trở nên hữu ích cho một số điều kiện tự miễn dịch liên quan đến các khối u ung thư. Bởi vì mức độ tế bào NK giảm đáng kể sau khi xạ trị và hóa trị liệu, nên chiết xuất từ nấm đuôi gà tây được coi là phần đặc biệt hỗ trợ bổ sung khi trải qua các liệu trình như vậy. Các tế bào NK tăng có thể hỗ trợ trong việc bảo vệ bệnh nhân khỏi tăng trưởng hoặc tiếp xúc hơn nữa của các tế bào ung thư.

Được dùng phối hợp vi PP điều trị ung thư vú

Trong một thử nghiệm được FDA tiến hành tại Đại học Bastyr, nghiên cứu phản ứng của chiết xuất từ nấm đuôi gà tây trên bệnh nhân ung thư, giả thuyết rằng nấm có thể giúp cải thiện hệ miễn dịch bị suy yếu ở phụ nữ bị ung thư vú sau một đợt điều trị y học thông thường. Sự gia tăng số lượng tế bào NK được cho là lý do vì những tế bào miễn dịch đặc biệt này có xu hướng di chuyển nhanh chóng và tấn công bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại.

Nhà khoa học nổi tiếng Paul Stamets, giám đốc nghiên cứu và sáng lập của Fungi Perfecti, đã có kinh nghiệm cá nhân của mình với nấm vân chi khi người mẹ 84 tuổi của mình được chẩn đoán vào năm 2009 với ung thư vú giai đoạn 4 và sống dưới 3 tháng. XEM VIDEO TƯ LIỆU

Mặc dù bà không thể trải qua phẫu thuật hoặc xạ trị, bà được kê toa Taxol và Herceptin cùng 4 viên nấm đuôi gà tây hai lần một ngày. Vài tháng sau, bà ấy không còn khối u và vẫn còn sống đến hôm nay để kể câu chuyện này.

Hữu ích cho các bệnh tự miễn dịch

Chiết xuất từ nấm đuôi gà tây có thể hỗ trợ những người mắc bệnh Lyme, hội chứng mệt mỏi mãn tính và các bệnh tự miễn hoặc viêm khác vì nó giúp điều chỉnh “tế bào trợ giúp miễn dịch”, một yếu tố thiết yếu trong việc kiểm soát những căn bệnh này.

Cách tốt nhất sử dụng nấm vân chi

Chiết xuất nước nóng dạng bột

Có một số cách sử dụng nấm vân chi nhưng cách tốt nhất và hiệu quả nhất  để sử dụng loại nấm này được các nhà khoa học khuyến nghị là sử dụng các chất chiết xuất nưc nóng ở dạng bột. Khoa học nghiên cứu về nấm là một bước ngoặt quan trọng khi cho ra một thử nghiệm khai thác mạnh mẽ nấm vân chi (coriolus) hay còn gọi nấm đuôi gà tây, bởi cho đến nay nó vẫn là một sản phẩm dược liệu tốt nhất trên thị trường. Họ cung cấp cả một phiên bản siêu mạnh của vân chi  như chiết xuất PSP. Khoa học chiết xuất nấm được thực hiện bằng cách sử dụng một phương pháp gọi là “chiết xuất nước nóng” trong đó chitin (xơ cứng) được loại bỏ. Điều này cho phép chiết xuất hiệu quả các chất cô đặc polysaccharide.

Liều dùng khuyến cáo

Liều dùng trung bình: 1-3 viên nang hai lần một ngày.

Liều dùng cao: 4-8 viên nang hai lần một ngày.

Thận trọng

Nhìn chung, nấm dược liệu rất an toàn để dùng cho hầu hết mọi người. Tuy nhiên, hãy luôn tham khảo tư vấn của bác sĩ gia đình nếu bạn có vấn đề về tình trạng sức khỏe.

Nguồn thông tin

  • Superfood Evolution Channel
  • Memorial Sloan Kettering Cancer Center (New York, USA)

Mọi thông tin quý khách vui lòng liên hệ
———– Teresa Herbs ———–

Teresaherbs.vn – Chiết xuất thảo dược tinh khiết

NẤM VÂN CHI NÚI PHÚ SĨ (Nguyên liệu Nhật Bản-Chiết xuất tại Mỹ)

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO (Nguyên liệu Tây Tạng – Chiết xuất tại Mỹ)

DẦU BÀO TỬ NẤM LINH CHI

 

 

DẦU BÀO TỬ NẤM LINH CHI
NẤM THÁI DƯƠNG

Nấm thái dương có tên khoa học là  Agaricus blazei Murrill, nó còn có nhiều tên gọi :

  • Himematsutake
  • Agarikusutake
  • Kawarihiratake
  • Cogumelo do Sol
  • Sun mushroom (Nấm mặt trời)

Tóm tắt lâm sàng

Agaricus blazei là một loại nấm ăn được có nguồn gốc từ Brazil và được trồng tại Nhật Bản cho mục đích chữa bệnh. Agaricus blazei đã được nghiên cứu sử dụng trong điều trị xơ cứng động mạch, viêm gan, tăng lipid máu, tiểu đường, viêm da và ung thư. Polysaccharides và các hợp chất antiangiogenic có trong Agaricus blazei có thể giúp phòng chống ung thư. Agaricus blazei cũng được chứng minh là có tác dụng điều trị bệnh đái tháo đường trong ống nghiệm (in vitro) và trong các nghiên cứu trên động vật.

Ở người, các nghiên cứu về chiết xuất Agaricus blazei cho thấy những lợi ích bao gồm cải thiện khả năng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường, giảm cân, mỡ trong máu, glucose huyết thanh và mức cholesterol ở người khỏe mạnh, và cải thiện chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân viêm loét đại tràng.

Chiết xuất Agaricus blazei giúp tăng cường doxorubicin- khiến quá trình chết của tế bào (apotopsis) chống lại sự kháng thuốc của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan. Chiết xuất Agaricus blazei giúp cải thiện hoạt động của tế bào sát thủ tự nhiên và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân ung thư phụ khoa trải qua hóa trị.

Các dữ liệu sơ bộ khác cho thấy rằng sử dụng một lượng chiết xuất Agaricus blazei hàng ngày giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. Mặc dù các nghiên cứu cho thấy không có sự cải thiện sự sống khi dùng bổ sung chiết xuất Agaricus blazei đối với nhiều bệnh nhân bị u tủy, nhưng có tác dụng điều hòa miễn dịch cho bệnh nhân u tuỷ. Chiết xuất Agaricus blazei chưa cho thấy mang lại lợi ích gì cho phụ nữ lớn tuổi. Các nghiên cứu sâu hơn là cần thiết về lợi ích của nấm Thái dương đối với phụ nữ lớn tuổi.

Trong khi một nghiên cứu nhỏ báo cáo rằng chiết xuất Agaricus blazei có thể cải thiện chức năng gan ở bệnh nhân viêm gan B, tổn thương gan và tử vong cùng với viêm môi (tình trạng môi bị khô, nứt nẻ) sau khi tiêu thụ. Brefeldin A, một hợp chất phân lập từ Agaricus blazei, được chứng minh là có hoạt tính estrogen, nhưng không kích thích sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú.

Nguồn thực phẩm

Agaricus blazei là một loại nấm ăn được. Nó có thể được tiêu thụ dưới dạng nấm đông khô hoặc như chất lỏng chiết xuất tập trung, trà, hoặc viên nang. Thân nấm thường được thêm vào súp, nước sốt hoặc trà nóng

Mục đích sử dụng

Agaricus blazei được dùng trong hỗ trợ điều trị:

  • Xơ cứng động mạch
  • Điều trị ung thư
  • Bệnh tiểu đường
  • Viêm gan
  • Tăng lipid máu
  • Chất kích thích

Cơ chế hoạt động

Chiết xuất Agaricus blazei được chứng minh là có tác dụng kích thích estrogen và có thể giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch thông qua hai vai trò trong tín hiệu tế bào, ức chế phát triển đại thực bào và phục hồi tế bào nội mô do tổn thương mạch máu. Cả chất chiết xuất từ ​​dung dịch nước và hữu cơ của Agaricus blazei đều bảo vệ các tế bào tiếp xúc với methyl methanesulphonate, một tác nhân gây đột biến. Các kích thích được sản xuất bởi acid linoleic trên polymerase beta-DNA, một enzyme tham gia vào cơ chế sửa chữa sau khi tiếp xúc với DNA với các tác nhân alkyl hóa, được cho là chịu trách nhiệm cho một hiệu ứng như vậy.

Ergosterol, một thành phần chính của Agaricus blazei, đã được tìm thấy có thể ức chế sự phát triển khối u ở chuột thông qua sự ức chế trực tiếp sự hình thành mạch máu do khối u gây ra. Các nghiên cứu khác chứng minh rằng polysaccharides có mặt trong chiết xuất Agaricus blazei gây ra sự hoạt hóa của đại thực bào hoặc tế bào tiêu diệt tự nhiên và hoạt tính tế bào lympho T gây độc tế bào ở chuột mang khối u. Cụ thể, việc kích hoạt các tế bào sát thủ tự nhiên được trung gian thông qua biểu hiện IFN-gamma IL-12 gây ra.

Chiết xuất Agaricus blazei kích thích hoạt hóa caspase 3 và làm giảm hoạt động telomerase  thông qua việc điều chỉnh tín hiệu Akt do đó gây apoptosis trong các dòng tế bào ung thư. Blazeispirol A, được sản xuất bởi quá trình lên men Agaricus blazei, gây ra cả sự chết tế bào phụ thuộc vào caspase và độc lập trong tế bào Hep 3B của con người. Agaritine, một thành phần chứa hydrazin cũng biểu hiện hoạt tính chống ung thư đối với các tế bào ung thư bạch cầu U937 qua trung gian apoptosis. Trong một nghiên cứu khác, polysaccharides phân lập từ Agaricus blazei đã được chứng minh là gây ra apoptosis trong các tế bào HL-60 thông qua một chuỗi tín hiệu của con đường phụ thuộc caspase-3 phụ thuộc ty thể.

Chống chỉ định

Một nghiên cứ trong ống nghiệm (in vitro) cho thấy rằng chiết xuất Agaricus blazei có hoạt tính giống như estrogen và do đó nên được sử dụng thận trọng. Bệnh nhân bị ung thư nhạy cảm với hormone nên thảo luận về việc sử dụng nó với bác sĩ của họ.

Bệnh nhân bị mẫn cảm với Agaricus blazei.

Phản ứng có hại

Tiêu thụ Agaricus blazei có thể gây ra rối loạn chức năng gan ở bệnh nhân ung thư.

Hiện tượng Cheilitis (viêm môi) cũng đã được báo cáo khi sử dụng Agaricus blazei.

Tương tác thuốc

Chất nền Cytochrome P450 trong Agaricus blazei có thể ức chế CYP3A4 và có thể ảnh hưởng đến nồng độ trong tế bào của các thuốc chuyển hóa bởi enzyme này.

Nguồn: WebMD và Memorial Sloan Kettering Cancer Center (New York, USA)

SẢN PHẨM NỔI BẬT

NHẬN XÉT CỦA KHÁCH HÀNG

Hotline: ‭093.131.6595
Hotline: ‭‭093.131.6595
Contact Me on Zalo